SƠ LƯỢC VĂN HÓA
HỌ MAI VIỆT NAM

Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng lớn gồm có những giá trị tinh thần và vật chất mà con người làm ra và được cộng đồng giữ gìn, lưu truyền và kế thừa qua nhiều thế hệ, góp phần tạo ra khuôn khổ tập quán, đạo đức của dân tộc hay nhóm người, góp phần làm ổn định xã hội, nâng cao chất lượng sống vật chất và tinh thần.
Văn hóa Việt tộc cũng như văn hóa Mai tộc thuộc về loại hình văn hóa gốc nông nghiệp điển hình với những đặc trưng chủ yếu sau đây:

Tổ chức nông thôn theo huyết thống: Gia đình và Gia tộc. Gia đình là tế bào xã hội, gia tộc gồm nhiều giá đình gắn bó có vai trò quan trọng còn hơn cả gia đình. Sức mạnh gia tộc thể hiện ở tinh thần đùm bọc, thương yêu nhau, cưu mang nhau về vật chất và dìu dắt nhau về tinh thần. Trong họ có gia phong nề nếp, tôn ty trật tự, có trên có dưới, có tiền nhân có hậu thế.
Việt tộc trước hết là theo đạo Hiếu thờ gia tiên trong nhà và thờ tổ tiên tại nhà thờ họ, phụ nữ không tới nhà thờ họ thì theo đạo Mẫu thờ các thánh Mẫu ở các đền phủ.

Tổ chức nông thôn theo làng xã:

Nông dân luôn có ý thức hòa hợp, tôn trọng và sùng bái thiên nhiên, từ đó hình thành lối tư duy tổng hợp, thiên về kinh nghiệm, trực giác, cảm tính và duy linh .

Nông dân thích Nhân trị, chuộng Nhân hòa, Trọng Đức, Trọng tình, Trọng Văn. Từ đó dẫn tới Hiếu hòa, Bình đẳng, Dân chủ, Cộng đồng, Tập thể.

Tư duy tổng hợp biện chứng, cộng với trọng nhân hòa dẫn đến lối sống linh hoạt, ứng biến theo hoàn cảnh, dung hợp trong tiếp nhận, khoan dung trong ứng xử, mềm dẻo trong đối phó. Khoan hoà mềm mại để dạy người, không báo thù kẻ vô đạo, ấy là cái mạnh của người quân tử phương Nam.
Tuy nhiên, mặt trái của tính Linh hoạt, Nhân hòa là dẫn đến sự tùy tiện, coi thường nguyên tắc, ý thức tổ chức kỷ luật kém, tư cao, tự đại.
Cuộc sống làng xã với văn hóa nông nghiệp thích ổn định đã hạn chế tính năng động, sáng tạo của con người, thủ tiêu vai trò cá nhân, dựa dẫm, ỷ lại; cào bằng, đố kị; tư hữu, ích kỉ ; bè phái, địa phương, gia trưởng… và dẫn đến sự trì trệ của xã hội
Quốc gia rộng lớn cần dùng pháp trị để đảm bảo dân chủ cho số đông, còn nông dân lại thích dân chủ cá nhân theo ý mình, dễ phát sinh bè phái chia ly. Vì thế cộng đồng làng xã có tính tự trị cao, có tư tưởng lãnh địa, nhiều khi “phép vua phải thua lệ làng”.
Nông dân có tính tư hữu lãnh địa, khó tiếp nhận người lạ ngụ cư, khó tiếp nhận nghề mới phát sinh, nên có truyền thống trọng nông ức thương, nông sản làm ra chỉ đủ chi dùng và trao đổi tại chợ quê.
Kinh tế nông nghiệp thấp kém dẫn tới nghèo khó và lối thoát duy nhất trong làng xã là đầu tư tri thức, là học chữ để thoát nghèo, từ đó sinh ra trọng Văn, trọng trí thức và nhà nhà đua nhau cho con ăn học.
các mẹ ru con:
Con ơi mẹ dặn câu này
Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm
Làm người đói sạch rách thơm
Công danh là nợ nước non phải đền.
Nhờ được học hành mà xóm làng ngày càng được đổi thay, các ngành nghề được phát triển, kinh tế và văn hóa đi lên từng ngày.

Thánh tổ Mai An Tiêm đại diện cho Văn hóa nông nghiệp của Mai tộc thuở nguyên khai, nét đẹp của Mai An Tiêm trước hết là ý thức tự chủ:
Tự chủ với bản thân:
Tin tưởng về khả năng của mình có thể tự tạo dựng nên cuộc sống với tinh thần tự lập, cần cù lao động. Tự tin rằng mọi của cải do bản thân tạo dựng mới là của cải bền lâu và không phải lo trả nợ ai. Ông nhắc dân chúng rằng: “Của biếu là của lo, của cho là của nợ“.
Tự chủ với cộng đồng:
Ông dẫn dắt dân chúng xây dựng kinh tế văn hóa và an ninh trong bộ lạc, hơn nữa đã tham gia quản lý nhà nước Văn Lang. Ông sống trung thực, thẳng thắn, sẵn sàng cống hiến cho việc khai sơn phá thạch mở mang bờ cõi, bảo vệ và xây dựng non sông đất nước. Cũng vì lòng trung thực thanh cao, không bè phái mà ông bị gian thần vu hại.
Tự chủ với thiên nhiên:
Ông phải lo tổ chức cuộc sống cộng đồng, nếu không nắm bắt được các quy luật tự nhiên thì không thể điều hành sản xuất nông nghiệp của cả bộ lạc, ông phải biết hòa hợp và tôn trọng tự nhiên, tôn kính trời đất nhưng không phải là để nhờ trời mà chính là tự tin nơi bản thân mình trước thiên nhiên hùng vĩ.
Với năng lực tự chủ ấy, ông là điểm tựa chắc chắn cho dân làng trong cuộc sống, cho vợ con khi đi đày, ông nói: “Nàng yên tâm, trời sinh, trời dưỡng, lo gì, khi thân này còn sống thì cả nhà ta sống”.
Mai tộc cũng mang bản sắc văn hóa nông nghiệp:

Theo truyền thống, các chi họ rất chú trọng nghi thức cúng tế, trước hết là tỏ lòng tôn kính tổ tiên, sau nữa là giáo dục con cháu về chữ LỄ vì đó là trung tâm nhân cách con người.

Tính gia trưởng và tự chủ cá nhân xung đột nhau.
Theo truyền thống, trưởng nam được đề cao và gọi là Tộc trưởng, là đại diện của tổ tiên trước con cháu, lúc cúng giỗ đều nhân danh Tộc trưởng xưng hô với tổ tiên. Nếu nếp nhà không được duy trì tốt sẽ dẫn tới: Tộc trưởng thích nhân danh tổ tiên tự định đoạt mọi việc, nếu việc định đoạt sai trái thì các con thứ bất tuân, khối đoàn kết bị phá vỡ rồi sinh ra tách họ và làm nhà thờ mới.

Các họ lớn thường áp dụng tổ chức Hội đồng gia tộc do trưởng lão làm chủ tịch nhằm hạn chế thói gia trưởng độc đoán.

Các chi họ tách ra thường theo lệ chung, tổ chức Thu tế ngày rằm tháng Bảy để ngưởng vọng Cửu huyền tổ tiên cho tròn đạo lý. Tuy nhiên việc tổ chức đơn sơ, văn cúng Hán tự chỉ có tổ tiên biết, con cháu không hiểu được, các bậc trưởng lão lại thường không giới thiệu nguồn gốc cho con cháu biết. Gia phả các chi bé cũng chỉ viết tới Sơ tổ (5 đời), lâu dần các họ bé mất kết nối với quá khứ, các chi anh em gần nhau mà đã coi như họ khác rồi. Đó là lý do trong một xã có nhiều nhà thờ họ nhưng ít họ có cội nguồn sâu xa.
Khổng Tử cùng thời với Thánh tổ Mai An Tiêm nhưng họ Khổng có gia phả 2500 năm, còn họ Mai ta phần nhiều chỉ 300 năm, họ lâu nhất cũng chỉ tới 1000 năm, nhiều họ còn không biết húy danh cụ tổ mà chỉ biết tên hèm do thầy cúng đặt cho khi làm lễ tang.

Tính tự trị, tự chủ, bè phái mâu thuẫn với tôn ty trật tự ; chi họ mạnh đường tử tôn, công thành danh hiển lại muốn xưng danh anh cả quên cả bề trên. Chỉ có niên biểu mới là thước đo bề sâu nguồn cội, ngôi thứ anh em, con cháu.

Tình cảm và dân chủ trong những phạm vi nhỏ hẹp của các gia tộc, làng xã đã bộc lộ mặt trái là phá vỡ tôn ty truyền thống, làm cho lịch sử gia tộc bị đứt đoạn.

Nhiều họ nêu lý do không có phả cũ là do chiến tranh bom đạn đốt cháy, đó là một phần khách quan, về chủ quan nhiều khi bị chính con cháu trong họ không biết giá trị của gia phả mà xé sách làm giấy cuốn thuốc lá…
Để duy trì nếp nhà và thoát nghèo, chỉ có đầu tư vào tri thức, trọng Văn, xem học chữ thánh hiền là mục đích, làm nông nghiệp là phương tiện để đạt mục đích cuộc đời, sách là ruộng, bút là cày, cha mẹ chắt chiu khó nhọc, đến mùa gặt lấy chữ vinh.
Ruộng vườn chăm bón mừng thu lớn
Sách vở đọc nhiều vui đỗ cao.
Sách HMVN bước đầu đã tổng kết được 17 cụ đỗ Đại khoa Nho học được khắc bia trong Quốc tử giám, 99 cụ đỗ Trung khoa Nho học, gần 200 Tiến sĩ tân học, còn Cử nhân đời mới không tính hết được.
Nông dân đã tạo ra Tiến sĩ tuy nhiên hầu như các Tiến sĩ lại không viết phả họ; Hội tư văn ở làng gồm Cử nhân và Tú tài mới là những người viết phả.
Ngày nay do con cháu được học hành thành đạt, điều kiện kinh tế khá hơn, người đi xa nghĩ nhiều về nguồn cội và đạo nhân sinh, nhớ tới công đức tiền nhân và mong muốn phục hưng gia tộc. Xây dựng lại nhà thờ tổ cho khang trang có thể con cháu làm được nhưng viết lại gia phả cho nguồn cội lâu dài là việc vô cùng khó khăn không phải có tiền là làm được. Khi không viết được sử họ thì cũng không có cơ sở để cải tiến việc cúng tế cho phù hợp với thời đại và truyền cảm xúc tâm linh và lòng tự hào về nguồn cội, công đức tổ tiên và truyền thống gia tộc.

Đại Mai tộc Việt Nam rất may mắn là có Thánh thủy tổ Mai An Tiêm từ thời vua Hùng thứ 17…lễ hội Thánh tổ họ Mai được tổ chức theo Quốc lễ; trong sách Quốc tổ Hùng vương, Mai An Tiêm được xếp trong danh sách Tứ thánh, tại khu di tích đền Hùng có hồ Mai An Tiêm với cầu Mai An Tiêm rất đẹp, đường Mai An Tiêm được đăt tên tại nhiều thành phố, chuyện quả dưa đỏ đã được ghi chép trong Lĩnh Nam Chích Quái, trong tiểu thuyết Quả Dưa Đỏ của Nguyễn Trọng Thuật, trong tiểu thuyết của Tô Hoài cùng nhiều tác phẩm văn học khác.

Hà Nội ngày lễ Đoan Ngọ năm Tân Sửu, Thế Phả công Mai Trọng Nhân.