THIẾU TƯỚNG MAI XUÂN TẦN
HÀNH TRÌNH CUỘC ĐỜI
VÀ SỰ NGHIỆP

LỜI MỞ ĐẦU
Trong trăm Họ Việt Nam , có muôn vàn các hào kiệt. Từ đời vua Hùng cho đến các thời Vua hậu thế trước thế kỷ 19. Việt Nam xuất hiện muôn vàn nhân tài và các đấng anh hùng , danh nhân đã lưu danh sử sách.
Họ Mai là 1 trong những Họ đầu tiên có từ thời sơ khai ngay thời kỳ đầu dựng nước của các Vua Hùng.
Trong lịch sử cận đại còn ghi lại , các bậc tiền nhân nổi tiếng Họ Mai không thiếu những anh tài đỗ đạt cao , có những nhà cách mạng nổi tiếng quật cường . Qua các thời kỳ , Họ Mai VN đã cống hiến cho đất nước rất nhiều nhân tài giúp sức cho công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước.
Vào đầu thế kỷ 20 , Thực dân Pháp đang thực hiện chính sách đô hộ nước ta. Từ sau khi Vua Bảo Đại thoái vị ở Huế (1941), .. làn sóng cách mạng Việt Minh phát triển mạnh mẽ , đặc biệt ở Trung Kỳ. Khu vực Trị-Thiên. Một người con họ Mai đã lớn lên , học tập và tham gia vào đường lối cách mạng rất sớm. Không ai khác đó chính là Thiếu Tướng Mai Xuân Tần , người con của Họ Mai Việt Nam chúng ta.
Ông là người yêu nước , yêu hòa bình, yêu cách mạng. Từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường những năm 1945 , ông đã sớm giác ngộ về cách mạng và căm thù chế độ đàn áp thực dân. Vừa học xong trung học , Ông dấn thân vào con đường cách mạng chính ngay trên quê hương mình, trong ngay ngôi trường của mình. Từ đây, cách mạng đã làm thay đổi cuộc đời ông ra sao ? Thử thách nào ông từng đối diện và thành quả nào đến với ông? Và ông là ai? Và có ảnh hưởng gì đối với cách mạng VN và đối với người con dòng máu Mai An Tiêm?
Sau đây xin mời quý đọc giả xem qua trích lược về ông :

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

Thiếu Tướng : Mai Xuân Tần .
Sinh ngày 27 tháng 10 năm 1924.
Nguyên quán : Phương Liệt , Thanh Xuân , Hà Nội.
Bố mẹ của Mai Xuân Tần mồ côi nên không biết nhiều về ông bà nội- ngoại .
Xem gia phả Mai Xuân Tần được biết Cụ tổ họ Mai, cách Ông 12 đời, “hiệu là Phúc Đạt, xuất thân ở Thạch Giản, Nga Sơn.
Ông nội là Mai Xuân Vận, còn có tên là Mai Doãn Xước, quê ở Phương Liệt, Hoàn Long, Hoàng Mai, tỉnh Hà Đông, nay là phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, Hà Nội.

Cụ được học chữ nho, được bổ nhiệm Chánh cửu phẩn ở Thái Bình, sau làm Xứ mục huyện Kiến Xương, Thái Bình. Cụ là người có đức có tài, được cụ Trần Gia Mỹ, tuần phủ Nam Định gả con gái là Trần Thị Tụy.
Ông Mai Xuân Vận sinh được 3 người con là Mai Thị Ước, Mai Xuân Bá, Mai Thị Kết. Mai Thị Kết mới sinh còn bú mớm thì bà Trần Thị Tụy mất. Mai thị Ước phải nuôi Mai Xuân Bá và Mai Thị Kết từ thuở bé.
Sau khi ông Mai Xuân Vận mất , Mai Thị Ước đưa hai em Mai Xuân Bá và Mai Thị Kết cùng mộ bố mẹ về quê.

(Bà Trần Thị Tụy sau khi sinh Mai Thị Ước một thời gian vẫn không sinh tiếp được con trai .Ông Mai Xuân Vận có lấy vợ hai sinh được một con trai là Mai Xuân Phan. Sau đó ba năm thì bà Tụy ông mới sinh được Mai Xuân Bá và Mai Thị Kết).

Mai Xuân Bá và Mai Thị Kết thuở bé được bác họ nuôi nhưng quá cực khổ, được ông cậu em bà Tụy là cụ Trần Lưu Thành làm tri huyện đem về nuôi. Mai Xuân Bá thuở bé có được đi học, nhưng khó khăn nên phải sớm ra đời kiếm sống.

Mẹ của Mai Xuân Tần là Lê Thị Kỳ, quê ở phường Phú Hội thành phố Huế . Bà ngoại là Tôn Nữ Thị Lựu quê ở Bằng Môn, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế. Ông bà ngoại mất sớm, Lê Thị Kỳ được bà dì là Tôn Nữ Thị An nuôi. Em bà An là bà Bùi Huy Tín, giám đốc nhà in Đắc Lập ở Huế. Cụ Bùi Huy Tín quen thân với cụ Trần Lưu Thành, hai người gả con, cháu nuôi cho nhau, nhờ đó Ông Mai Xuân Bá (Bố của Mai Xuân Tần) người Bắc người Trung lại gặp nhau nên vợ nên chồng. Mai Xuân Bá sinh được bốn chị em ở Hà Nội, chị đầu mất khi còn nhỏ, anh trai là Mai Xuân Tảo, em gái là Mai Thị Hương.
Để thu nhập được khá hơn, cả nhà di chuyển vào Huế. Bà Kỳ sinh chín lần, chỉ nuôi được bảy. Bốn con đầu là đặt tên là Tảo, Tần, Cần, Kiệm.Cả nhà phải đi ở thuê trong thành phố Huế. Cho đến khi anh Tảo đậu bằng Thành chung phải bỏ ngang đi làm, bố mẹ dành dụm được ít tiền và gặp may mới mua được một ngôi nhà lá, nay vẫn giữ làm nơi thờ cúng.

Đến năm 1943 Ông Mai Xuân Bá mất việc, cuộc sống càng khó khăn. Bố phải đi xa kiếm việc làm, quá vất vả và lâm bệnh, mất sớm lúc mới 53 tuổi. Mẹ ông vẫn kiếm sống bằng nghề buôn bán nhỏ nuôi các em ăn học.
(8 Tuổi , Mai Xuân Tần theo gia đình vào quê ngoại ở Huế. Do hoàn cảnh phải gửi ở quê ngoại để cha mẹ tiện công việc. Tại đây, 9 tuổi ông mới đi học lớp 5( lớp 1 bây giờ) tại trường Đông Ba.) Ông có vóc dáng hơi nhỏ con nên đôi khi bị các bạn bắt nạt. Còn về học tập, Ông luôn luôn đi đầu .
Những năm sau, từ lớp ba đến lớp nhất (tiểu học), ông được chuyển sang trường Kê-nhếch, gần nhà hơn. Ông học đều mỗi năm một lớp.

Qua bốn năm trung học, ông học ở trường dân lập Hồ Đức Hàm, rồi trường Việt Anh. Hồi đó chỉ có một trường Quốc học là công lập. Ông rất ham đọc truyện; thích thơ văn trào phúng, hài hước; thích cái trữ tình, lãng mạn và cũng rất thích những người hùng …

Ngoài vấn đề văn hóa , ông rất ham mê thể thao. Ông có thể chơi đủ các môn; điền kinh, dụng cụ, bơi lội, xe đạp, …Người ta tổ chức thi môn gì ông cũng thi, không nhằm đoạt giải mà chỉ để rèn luyện và vui chơi với bạn bè. Trong các môn học ông mê và giỏi nhất môn Toán.
Năm đệ tứ ở Huế có hai học sinh giỏi được chọn đi tham quan Sài Gòn : một là học sinh ở trường Quốc học, một là Ông. Đây là lần du lịch xa nhà đầu tiên của ông.
Sang năm thứ nhất “Tú tài 1” ông vẫn học ở Việt Anh. Chương trình Tú tài 1 , học hai năm nhưng ông học một năm đã đi thi vì sang lớp này được thi tự do.
Mùa hè đó, do hoàn cảnh khó khăn và để phụ giúp gia đình , Ông bắt đầu dạy thêm. Trong đó có con của Tôn Thất Tùng, cán bộ kỹ thuật giao thông công chính nhà ở gần trường Quốc học.

Đến năm thứ ba trung học , Ông được vào học trường Quốc học Huế. Lớp này có hai khoa: Toán và Triết học . Ông chọn khoa Toán.

Khóa học của ông diễn ra vào thời kỳ đang có chuyển biến lớn. Sự kiện Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945) đã cắt niên khóa của ông ra hai thời kỳ có thể thay đổi lớn về nhân sự và chương trình học.
Khi Nhật đảo chính Pháp, trường chỉ nghỉ một thời gian ngắn lại tiếp tục học. Trong đó Thầy Tạ Quang Bửu dạy Lý. Thầy Bửu là một nhà trí thức yêu nước, ông và bạn bè rất tự hào có thêm thầy Bửu vể trường. Chính mấy tháng học với thầy Bửu mà sau này đã quyết định sự hướng của cả cuộc đời ông.

Ông đã trải qua thời niên thiếu và tuổi thanh xuân một cách thật tươi đẹp và thật hạnh phúc.

Ông tốt nghiệp tú tài Toán vào thời kỳ có nhiều biến động lớn.Trong nước, Nhật đảo chính Pháp, lập chính phủ Trần Trọng Kim.
Ông ra trường không lâu thì được tin ông Phan Anh và thầy Tạ Quang Bửu ra lập Bộ Thanh niên, chuẩn bị mở Trường võ bị Thanh niên tiền tuyến. Từ đó ông bắt đầu sự nghiệp cách mạng của mình.

Sang tháng 7 năm 1945, toàn trường đã được “Việt Minh hóa”. Ông Phan Tử lăng, hiệu trưởng, nguyên là chỉ huy trung đoàn bảo an binh, đồng thời chỉ huy bảo an Trung Kỳ, đã được tiếp xúc với ông Lê Tự Đồng, đại diện Việt Minh Nguyễn Tri Phương.
Sau ngày Nhật đầu hàng (13-8-1945), việc học tập của ông ở tại trường chấm dứt. Trường trở thành một trụ sở của Việt Minh Huế.

Toàn trường đã trở thành lực lượng nòng cốt, lực lượng xung kích đi đầu trong mọi công việc, là chỗ dựa đáng tin cậy của Ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên – Huế, Ủy ban khởi nghĩa Trung Bộ, của Tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế trong những ngày đầu Cách mạng tháng Tám.

Ngày 23 tháng 8, trong cuộc mít tinh lớn tại sân vận động thành phố, đại diện chính quyền cách mạng tuyên bố công nhận sinh viên Trường võ bị Thanh niên tiền tuyến đã tốt nghiệp và chuyển thành cán bộ lực lượng vũ trang tỉnh Thừa Thiên Huế.

Trong thời gian này , ông tham gia rất nhiệt tình các phong trào cách mạng Việt Minh ở Huế. Được làm việc với các cán bộ như Nguyễn Tri Phương , Cù Huy Cận , Tạ Quang Bửu , Nguyễn chí Thanh , Nguyễn Chánh , …
Từ ngày đầu thành lập Giải phóng quân Thuận Hóa (1-9-1945), ông đã cùng ông Đoàn Huyên xây dựng Trung đội 3 , sau đó được lệnh về tập trung chuẩn bị Nam tiến. Ông được phân về làm Trung đội trưởng Trung đội 14. Đến cuối năm 1945, ông nhận được lệnh đưa trung đội đi làm nhiệm vụ ở nước bạn Lào.
Đến mùa hè 1946, ta đã kiểm soát được đường 9. Ông được lệnh trở về. Ban chỉ huy Trung đoàn 101 Cao Vân cho ông và các đồng chí về đóng ở Thuận An để củng cố đội ngũ tiếp tục huấn luyện và làm nhiệm vụ canh gác cửa biển trong đội hình của đại đội do Nguyễn Đức Thừa làm đại đội trưởng (Nguyễn Đức Thừa sau này làm Hiệu trưởng Trường Đại học Bách Khoa).
Trước ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông đang nghỉ phép ở Hà Nội – quê nội của ông. Hiện ở Hà Nội anh Bửu là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, anh Hoàng Đạo Thúy là Cục trưởng đều biết ông, đã tiếp nhận. Cục giao cho ông lập ngay một đại đội công binh để chiến đấu.

Ông về nhận quân ở một cái đình gần thị xã Hà Đông, được cấp thêm áo quần, xẻng cuốc, thuổng, dao, cưa… Chọn mấy anh có học, nhanh nhẹn giao làm trung đội trưởng, tiểu đội trưởng, chấn chỉnh đội ngũ vào Hà Nội ngay để làm nhiệm vụ.
Khi bộ đội rút khỏi Hà Nội, Cục đưa ông về làm Trưởng phòng Nghiên cứu Công binh.
Tháng 8 năm 1947 , Ông được lệnh lên làm bí thư quân sự cho đồng chí Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp.
Trước khi vào Phòng bí thư nhận công tác, ông thăm thầy Tạ Quang Bửu lúc này là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và anh Phan Tử Lăng là Cục trưởng Cục Quân chính. Một lần nữa, khi gặp khó khăn ông lại gặp được thầy Bửu.

Sau khi gặp Võ Nguyên Giáp , coi ông đã được nhận vào trường “Đại học quân sự lớn” của cuộc đời. Ở đây ông đã có anh Văn (VNG) là người anh, người thầy rồi.
Như vậy công việc của ông là phải: Lập ra chương trình làm việc của anh Văn và tổ chức thực hiện chương trình đó. Làm cầu nối giữa anh Văn với anh Thành ( Hoàng Văn Thái), với các cơ quan Bộ Tổng tham mưu và Bộ Quốc phòng. Làm cầu nối giữa anh Văn và các cán bộ đơn vị. Theo dõi nghiên cứu các chuyên đề do anh Văn giao riêng.
Ông về cơ quan vào thời kỳ đang diễn ra một chiến dịch lớn nhất từ trước đến nay và có ý nghĩa chiến lược của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông được học tập một số vấn đề quân sự rất thực tiễn.
Trong thời gian ông làm bí thư quân sự cho anh Văn, ông đã cố gắng hoàn thành nhiệm vụ , ông học tập được nhiều về vấn đề về đường lối và chỉ đạo chiến lược cũng như tác phong lãnh đạo chỉ huy xây dựng, huấn luyện và chỉ huy đơn vị chiến đấu.

Trước khi rời cơ quan, chuyển ra đơn vị, ông đã được kết nạp vào Đảng. Đó là các điều kiện quan trọng để ông có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ khi ra chỉ huy đơn vị chiến đấu.

Rời cơ quan ra đơn vị chiến đấu, ông coi như đã tốt nghiệp “Trường đại học lớn” của ông.

Vào mùa thu 1950, ông được chuyển ra đơn vị trực tiếp chiến đấu ở Trung đoàn 36, Đại đoàn 308 – đại đoàn chủ lực đầu tiên của bộ.

Tháng 8, Ông được lệnh về làm Tham mưu trưởng Trung đoàn 36 khi ta đang khẩn trương chuẩn bị chiến dịch Biên Giới, trung đoàn Ông đã hành quân lên vị trí tập kết ở Bố Trạch, Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.

Chiến địch Biên Giới là chiến dịch lớn nhất thời điểm đó đối với Ông. Lúc này Ông gặp được Bác Hồ. Anh Văn trực tiếp làm Chỉ huy trưởng, Bí thư Đảng ủy của Bộ chỉ huy chiến địch, có cố vấn Trung Quốc giúp sức. Sự có mặt của Bác là nguồn cổ vũ lớn. Tranh vẽ và bài hát “Bác đang cùng chúng cháu hành quân” là sáng tác trong thời gian này.
Suốt thời gian dài từ 1947 đến 1951 , ông liên tục làm việc tác chiến tham mưu cùng các cán bộ chỉ huy cấp cao và tham gia hầu hết các mặt trận tiền tuyến, tham gia rất nhiều chiến dịch , nhiều trận đánh đều mang thành công tốt đẹp. Ông đã dày dạn kinh nghiệm , học hỏi rất nhiều từ chiến trường và từ đó được bổ sung vào nhiều vị trí quan trọng và tham mưu trong bộ chỉ huy quân sự.
Sau chiến dịch Hòa Bình 1950-1951 , lúc ấy ông về đóng quân ở Phú Thọ. Có thời gian rảnh và có cơ hội sau hơn 30 tuổi đời . Tại đây lần đầu tiên trong đời ông có dịp tiếp xúc mới mối tình đầu tiên. (Người đó là Đinh Thị Nguyệt ,sau này người phụ nữ ấy chính là vợ ông cho đến hiện tại.)
Mùa thu năm 1952 , chiến dịch Tây Bắc mở ra. Ông tiếp tục liên đường. Trong chiến dịch này, ông lại được Bác Hồ thăm đơn vị và động viên.
Trong tháng 2 năm 1953, Ông trở thành trợ lý Cục Tác chiến. Tiếp đó huấn luyện chuẩn bị thao trường để huấn luyện cán bộ, chuẩn bị bộ đội cho mùa khô tới.
Sau nhiều chiến dịch và để chuẩn bị cho chiến dịch lớn là Điện Biên Phủ , ông được giao phụ trách đoàn cán bộ đi trước chuẩn bị Sở chỉ huy Tiền phương. Tại đây ông tiếp tục được làm việc với các cán sự tổng tham mưu và các cấp chỉ huy . Đặc biệt là với Đại Tướng Võ Nguyên Giáp.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, đã trải qua 9 năm chiến tranh chống thực dân Pháp, được tham dự chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ cũng như đã trải qua một “Trường đại học lớn”, vừa học vừa làm đã trưởng thành và hoàn thành nhiệm vụ đối với Tổ quốc, với lịch sử. Được tôi luyện trong khói lửa của cuộc đấu tranh cách mạng, bản thân ông đã học tập được nhiều bổ ích từ các tướng lĩnh, từ đồng đội về phẩm chất đạo đức, tài năng và tính cách, được bồi dưỡng ngày càng hoàn thiện và vững chắc, giúp cho ông hoàn thành bất kỳ nhiệm vụ nào được giao.

Trong công tác, ông luôn phấn đấu vươn lên để là một cán bộ tham mưu có năng lực, trung thực, dám nói dám làm, giúp lãnh đạo và chỉ huy có hiệu quả; là một cán bộ chỉ huy vững vàng, dũng cảm, mưu trí sáng tạo, biết quý trọng xương máu của chiến sĩ, đã trực tiếp chỉ huy đánh trên 10 trận, trận nào cũng thắng, ít thương vong, là một đảng viên có nhiệt tình cách mạng, mật thiết với quần chúng, chính trị vững vàng trong mọi tình huống, luôn tiên phong gương mẫu mọi mặt, đã thay đổi công tác rất nhiều nơi, ở đâu cũng làm được trung tâm đoàn kết, có tín nhiệm cao đối với trên và dưới.
Sau chiến dịch Điện Biên Phủ , Mỹ hất cẳng Pháp , công phá hiệp định Gionever. Ông được chỉ định tham gia trong đoàn của Việt Nam ở Trung ương với quân hàm Thiếu Tá, đi cùng với Văn Tiến Dũng để thực hiện hiệp định Gionever với Pháp.
Trước khi làm nhiệm vụ , ông có thời giam được nghỉ 4 ngày. Đây là lúc ông tiến hành đám cưới đúng theo lời hứa năm xưa với người yêu.( chiến thắng chiến dịch sẽ về cưới nàng.)
Ông tham gia vào Ủy ban Liên hợp Trung ương, chuẩn bị tài liệu, số liệu phục vụ cho cuộc đấu tranh với đối phương. Ông biết tiếng Pháp, xem tài liệu của họ, nghe họ nói để kiểm tra nội dung phiên dịch cho đoàn ta chuẩn bị đối sách. Khi có sự việc trong vùng tập kết của Pháp mà họ khiếu nại với Ủy ban là nhân dân ta vi phạm Hiệp định thì ông đi cùng với họ đến tại chỗ để giải quyết.

Làm việc ở Ủy ban Liên hợp một thời gian ngắn, cho đến khi đã chuẩn bị xong các văn bản về việc bàn giao các khu tập kết 80 ngày (Hà Nội), 100 ngày (Hải Dương), 300 ngày (Hải Phòng) để hai trưởng đoàn ký, song song với việc bàn giao các khu tập kết của ta ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ kết hợp chặt chẽ với kế hoạch chuyển bộ đội và cán bộ ra Bắc.

Sau ngày tiếp quản thủ đô, ông trở lại Cục Tác chiến làm Phó phòng Giáo luyện. Phòng mới thành lập, chỉ có: đồng chí Hồ Quang Hóa làm Trưởng phòng, ông làm Phó phòng và hai đồng chí nữa là Lê Quân, Nguyễn Kim. Nhiệm vụ của phòng là: tổng kết, huấn luyện tác chiến, sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện chiến dịch. Công tác chủ yếu lúc này là nghiên cứu thực hiện nhiệm vụ mới.

Ông được giao nhiệm vụ giữ liên hệ với tùy viên quân sự Liên Xô để sắp xếp làm việc về những vấn đề mà Bộ yêu cầu giúp đỡ.

Lúc này ông tiếp tục được làm việc với các đồng chí Trần Văn Trà , Vương Thừa Vũ , Vũ Lăng , Hoàng Minh Thảo, …tham gia huấn luyện đại đoàn 308.
Năm 1957, đồng chí Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đi thăm Liên Xô, Ông được tham gia đi . Năm 1959, đoàn cán bộ Bộ Tổng Tham mưu do đồng chí Văn Tiễn Dũng dẫn đầu đi thăm nghiên cứu công tác tham mưu chiến lược ở bốn nước Đông Âu trong 2 tháng. Sau đó ông được tham gia học ngắn hạn trong 12 tháng chia làm 2 đợt ở Liên Xô. Ông đã học tiếng Nga và đã tìm tòi nghiên cứu sách về các vụ nổ hạt nhân mượn từ thư viện. Ông đã ghi chép lại hơn 500 trang. Sau này mang về nước làm đề tài để nghiên cứu huấn luyện cho quân đội. Sau khi về nước, ông tham gia vào phòng giáo luyện và tổ chức diễn tập . Khi ấy cùng với đồng chí Lê Trọng Tấn.
Năm 1959 , tổng thống Xu-cac-No thăm chính thức VN. Ông vinh dự được tùy tùng phục vụ Bác Hồ . Được cận kề và phục vụ Bác , còn được ngồi ăn cơm chung với Bác nữa,…là niềm hạnh phúc vô cùng trong cuộc đời Ông.
Năm 1955, vợ ông mới về Hà Nội, lúc đó đã có một con gái đầu lòng. Ông có dịp bàn kế hoạch gia đình. Trước tình hình yêu cầu đi chiến đấu còn cao, ông bàn với vợ và đề xuất cho vợ đi học. Đúng lúc ông có lịch đi Liên Xô nên gia đình ông phải gửi con về bà ngoại chăm nom. Chỉ trong 6 tháng vợ ông hoàn thành chương trình cấp 3. Sau đó vào học tại trường Y tại Hà Nội.
Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc , ông lại phải vào Nam phục vụ công tác. Để lại vợ ông lo cho 2 con.( Mai Thị Nguyệt và Mai Xuân Đức). Sau đó Mỹ leo thang ra Hà Nội , gia đình ông lại 1 lần sơ tán , mỗi người một nơi.

Tháng 5 năm 1965, Ông được lệnh về làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 325C với nhiệm vụ xây dựng sư đoàn đưa vào Nam chiến đấu.

Về nhận nhiệm vụ ở Thanh Hóa , Ông làm Tham mưu trưởng. Trách nhiệm của ông đảm nhiệm là tổ chức đi tuyển quân, tổ chức biên chế, trang bị thành đơn vị, tổ chức huấn luyện để sớm đưa vào Nam chiến đấu, thời gian dự kiến một năm. Tháng 8 năm 1966, sư đoàn hành quân vào chiến trường. Lực lượng chủ chốt và tiến hành chiến dịch là vùng Trị – Thiên , đường 9 và 1 số căn cứ chủ lực.
Sau thắng lợi Mậu Thân 1968 vang dội ,giải phóng Huế , Quảng Trị ,.. quân Mỹ bại lớn rút khỏi Khe Sanh . Ông lại nhận nhiệm vụ cùng sư đoàn 325C tiến vào Tây Nguyên , sau trực tiếp chỉ đạo trung Đoàn 2 chiến đấu tại Ngọc Hồi. Sau đó được lệnh trở ra Huế nắm Trung Đoàn 324 mật danh là Ngự Bình.
Tháng 8, ông về công tác ở Quân khu, làm Trưởng phòng Tác chiến rồi Tham mưu phó. Và tại đây 1 lần nữa Ông được chiến đấu trên chính quê hương thưở ấu thơ của mình. Tham gia rất nhiều trận đánh và chỉ huy nhiều chiến dịch.
Từ tháng 2 năm 1972 , ông thay mặt Quân khu xuống trực tiếp giúp cho Ban chỉ huy Trung đoàn 6 đánh địch.
Sau khi Mỹ thất bại nặng nề tại Khe Sanh, Đường 9 , Quảng Trị và miền Trung . Tháng 4 năm 1973, Bộ quyết định sáp nhập B4 và B5. Ông trở lại Quân khu làm Tham mưu phó I (làm chức năng của Tham mưu trưởng).
Tháng 3 năm 1974, Ông được điều ra làm Cục phó Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu.
Tại đây Ông được phân công công tác huấn luyện, tổng kết. Sau đó, nhưng chuyển sang làm tác chiến , nắm tình hình địch và các chiến trường , đồng thời cung cấp các yếu tố cho Bộ Tổng Tham mưu hoàn thiện đề cương chiến lược hai năm 1975-1976 để kịp thời báo cáo Quân ủy Trung ương và Bộ Chính trị.
Cuối năm 1974, Bộ lập đoàn cán bộ có đủ thành phần đại diện cơ quan Bộ tổng Tham mưu, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật và Cục Cán bộ, do đồng chí Lê Trọng tấn làm trưởng đoàn đi thăm Liên Xô và Cộng hòa dân chủ Đức. Ông được tham gia trong đoàn. Mục đích chuyến đi thăm là học tập kinh nghiệm xây dựng quân đội chính quy hiện đại. Đó là mục đích công khai. Còn trong nội bộ thì đây là ý định bí mật.
Sau chiến thắng Tây Nguyên , Từ ngày 18 tháng 3, Ông được giao nhiệm vụ làm kế hoạch đánh Đà Nẵng.
Sau ngày giải phóng Đà Nẵng ông được giao nhiệm vụ trở lại cơ quan để phục vụ ở Tổng hành dinh, đồng thời chuẩn bị làm tổng kết cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 theo chức trách của ông.

Sau nhiều chiến dịch từ Tây Nguyên , Miền Trung vào Nam , cùng các cán bộ tổng chỉ huy , ta chiếm hầu như toàn bộ các khu vực phòng thủ trọng yếu vòng ngoài Sài Gòn. Ông tham mưu chỉ huy các mũi tiễn công đánh vào Dinh Độc Lập , Đến trưa ngày 30/4 SG được hoàn toàn giải phóng.
Sau ngày giải phóng Sài Gòn, ông lại may mắn được giao nhiệm vụ phục vụ đoàn đồng chí Lê Duẩn và đồng chí Võ Nguyên Giáp vào thăm nhân dân miền Nam . Lúc này ông có thời gian và đi tìm mẹ. Sau 30 năm lưu lạc xa cách. Sau bao nhiêu ngày lùng sục, nhờ vả , tìm tòi thông tin và phát tin trên báo đài.
Sau nhiều lần công tác , ông đã đưa Mẹ ông về thăm quê. Sau đó ông đưa mẹ trở vào SG sinh sống.
Sau ngày miền Nam được giải phóng, biên giới Tây Nam nước ta giáp với Cam-pu-chia trở nên căng thẳng vì những cuộc xung đột vũ trang do bọn Pôn Pốt gây ra. Ông được giao nhiệm vụ chỉ đạo Phòng K nắm tình hình biên giới Tây Nam.
Qua mấy năm theo dõi tình hình theo sự chỉ đạo của bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, ông tổng hợp diễn biến trên chiến trường ,báo cáo Bộ Tổng Tham mưu nghiên cứu đánh giá tình hình và đề xuất ý kiến chỉ đạo chiến tranh.
Thời gian này ông là cục phó chuyên trách về Cam-pu-chia thay mặt Cục Tác chiến sang báo cáo, đi cùng có đồng chí Trần Hiệu – Trưởng phòng K, đồng chí Phi Long – Trưởng phòng Chiến trường. Ông tiếp tục làm tham mưu với các đồng chí Lê Ngọc Hiển phó tham mưu trưởng ; đồng chí Lê Đức Anh.
Đến cuối tháng 8 năm 1978 ,Ông được đồng chí Lê Trọng Tấn giao nhiệm vụ về làm Tham mưu trưởng Quân đoàn 2 đang ở Phú Bài, chuẩn bị cho Quân đoàn về mọi mặt để sẵn sàng cơ động đánh lớn. Ông bay về Hà Nội và chuẩn bị vào ngay Quân đoàn 2 nhận nhiệm vụ chịu trách nhiệm huấn luyện Sư Đoàn 325 và sư 306. Kiện toàn các binh chủng , tổ chức diễn tập hiệp đồng .
Ngày 16 tháng 12 năm 1978, đoàn đi nhận nhiệm vụ và chuẩn bị chiến trường do đồng chí Nguyễn Hữu An, đồng chí Lê Linh và đồng chí Thái Cán chỉ huy lên đường.Ông cùng đồng chí Đoàn Chương, đồng chí Lê Văn Dương chỉ huy hành quân.
Sau ngày 17/1/1979 cơ bản Pôn Pốt bị tiêu diệt . Chính chủ cách mạng Campuchia thành lập. Ông chuyển sang làm nhiệm vụ giúp Cappuchia hồi sinh dân tộc và làm lại cách mạng.
Ngày 17 tháng 2 năm 1979, cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc nổ ra thì ngày 27 tháng 3, Quân đoàn được lệnh cấp tốc hành quân ra Bắc. Lại một lần nữa, cơ động đường dài thần tốc. Ông trở về Sở chỉ huy quân đoàn nhận nhiệm vụ.
Sau chiến dịch phía Bắc , Từ giữa năm 1981, ông nhận nhiệm vụ sang làm chuyên gia giúp Bộ Quốc phòng Cam-pu-chia. Lúc đó ông đang làm Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 2.
Lần này ông thống nhất với vợ chuyển gia đình vào Nam. Đó là một quyết định rất quan trọng . Rời bỏ một nơi mà cả gia đình đã ở , nơi chôn rau cắt rốn để đến một nơi xa lạ, điều kiện chưa có gì ngoài tiền lương.
Cơ quan hậu cần của Bộ đã đồng ý đề nghị của ông khi vào Nam sẽ cấp nhà ở và thu lại nhà ở Hà Nội. Toàn bộ gánh nặng của gia đình một lần nữa lại dồn cả trên vai vợ ông.
Thời gian này ông làm việc dưới sự chỉ đạo của Lê Đức Anh và Nguyễn Bá Ngọc thư ký của LĐA. Lúc này Mai Xuân Tần đã gần 60 tuổi.
Ông làm Phó đoàn từ năm 1981 và năm 1982 làm Trưởng đoàn . Từ đó ông giúp Campuchia cho đến khi kết thúc nhiệm vụ và tất cả chuyên gia về nước.

Nhiệm vụ chính là giúp Campuchia vừa học vừa làm, tập trung giúp bạn chỉ đạo công tác xây dựng lực lượng vũ trang để xây dựng cơ quan Bộ Quốc phòng.
Tận đến năm 1990 sau khi Pôn Pốt hoàn toàn tan rã , Campuchia đã đi vào nền nếp và khắc phục được nhiều hậu quả sau diệt chủng ,đất nước đang hồi sinh… cũng là lúc Ông và quân tình nguyện Việt Nam tiến hành bàn giao và rút quân về nước. Trong thời kỳ này ông thường làm việc với các lãnh đạo chỉ huy của Campuchia . Kết thúc hơn 10 năm nhiệm vụ giúp nước bạn tiêu diệt chế độ diệt chủng man rợ nhất trong lịch sử ; giúp bạn khôi phục nền chính trị ,quân sự , cách mạng và hồi sinh kinh tế . Từ đó gắn chặt hơn tình láng giềng các nước Đông Dương.
Từ sau kết thúc chiến dịch Tây Nam , đó cũng là cuộc chiến đấu cuối cùng. Ông trở về cuộc sống bình yên bên gia đình và những đồng đội yêu quý. Hưởng thụ những ngày tháng thanh bình, ngắm nhìn những thành quả mà cách mạng ta giành được.

TỔNG KẾT HÀNH TRÌNH NỬA THẾ KỶ PHỤC VỤ CÁCH MẠNG.

Thiếu tướng Mai Xuân Tần sinh ra ở Hà Nội, lớn lên ở Huế, cuối đời lại sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông có ba quê mà ở đâu Ông cũng thấy hạnh phúc như nhau, tình cảm Bắc, Trung, Nam hình như ông có từ trong dòng máu cha mẹ cho và đã sắp đặt cho ông có nghĩa vụ trung hiếu với cả ba miền như nhau, ở đâu có những đòi hỏi nặng nề nhất thì Ông đều phải có mặt.
Là 1 người mang dòng Họ Mai , kế nghiệp truyền thống tinh thần của thế hệ trước. Họ Mai Việt Nam tự hào khi sinh ra 1 đấng anh hào , quật cường , nghĩa khí. Đó là niềm tự hào cho dòng họ , cho đất nước VN , cho con cháu lớp lớp noi theo. Ông là tấm gương cách mạng , là 1 nhân chứng , nhân vật lịch sử điển hình cho ý chí đấu tranh và rèn luyện. Là một con người yêu nước , vì dân tộc, vì dòng máu Lạc Hồng. Là niềm vinh dự cho dòng Họ Mai của chúng ta , tiếp nối và phát huy , lưu danh sử sách muôn đời.

Phải nói rằng cuộc đời Ông là 1 chuỗi liên hoàn , học tập và chiến đâu không ngừng nghỉ. Trải qua 2 cuộc chiến tranh lịch sử cùng 2 cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới. Đó là 1 sự nỗ lực, là sự hy sinh cao cả vô cùng to lớn trong cuộc đời Ông cho cách mạng và đất nước.

Khởi nghĩa thì ông tham gia ở Huế. Toàn quốc kháng chiến, có mặt ở Hà Nội, chiến đấu ở Hà Nội, đến khi Pháp mở cuộc hành quân , Ông đã có mặt ở Việt Bắc. Khi ta mở đầu giai đoạn tổng phản công ông lại được ra đơn vị trung đoàn 36 Bắc Bắc – một trung đoàn giỏi đánh vận động, lại được tham gia chiến dịch Biên Giới lừng lẫy làm quân địch khiếp vía. Ông cùng đơn vị không vắng mặt một trận nào trong tất cả các chiến dịch lớn của Bộ Tổng chỉ huy mà trận nào đơn vị ông cũng thắng.
Đến khi cần chuẩn bị cho một chiến dịch quyết định , ông là một trong những cán bộ được chọn lên làm công tác chuẩn bị rồi phục vụ ở Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ do Đại tướng Võ Nguyên Giáp lãnh đạo chỉ huy, quân dân ta đã đánh thắng một trận chấn động địa cầu,một nửa đất nước đã được độc lập.

Bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Ông được giao xây dựng một sư đoàn vào chiến đấu ở Trị – Thiên – Huế , là chiến trường gian khổ ác liệt nhất ở toàn miền Nam. Trên chiến trường này đã có những chiến dịch nổi tiếng như Mậu Thân 1968; chiến dịch Khe Sanh khét tiếng ; chiến dịch Đường 9 – Nam Lào ;đánh bại “Việt Nam hóa chiến tranh”; chiến dịch Quảng Trị buộc địch Mỹ ký Hiệp định Pa-ri . Chiến dịch Trị – Thiên phối hợp với chiến dịch Tây Nguyên mùa xuân 1975, phát triển phối hợp với chiến địch Quảng Đà thành chiến dịch Huế – Đà Nẵng tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân khu mạnh nhất của Ngụy, tạo điều kiện phát triển tiến công thần tốc chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Chỉ ba ngày sau ngày giải phóng miền Nam, tập đoàn Pôn Pốt đổ bộ lên Phú Quốc, bắt đầu xung đột vũ trang ở biên giới Tây Nam, Ông lại được cử vào Nam chuyên giúp Tiền phương Bộ chỉ huy chiến đấu, mở đầu nhiệm vụ của ông đối với miền Nam của Tổ quốc. Khi cả nước xây dựng trong hòa bình, lại xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam uy hiếp đến an ninh của miền Nam, ông lại được ở trong hàng ngũ của Quân đoàn 2 phản công bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với nước bạn Cam-pu-chia, tiếp đó làm chuyên gia cho Bộ Quốc phòng Cam-pu-chia trong điều kiện rất phức tạp, khó khăn.

LỜI KẾT
Cuộc đời quân ngũ của Thiếu Tướng Mai Xuân Tần kéo dài hơn nửa thế kỷ, đến năm 72 tuổi ông mới nghỉ hưu ngoài dự kiến của ông. Vì không ai có thể tính trước được rằng phải trải qua ba cuộc chiến tranh, nước ta mới thực sự hòa bình, độc lập, thống nhất. Ông đã trải qua các chiến trường ở Trung, Nam, Bắc và cả ở nước bạn Lào, Cam-pu-chia. Trong cả ba cuộc chiến tranh, lần nào ông cũng có mặt trực tiếp ở đơn vị chiến đấu, lại cũng có thời gian lúc nhiều lúc ít ở cơ quan chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu. Ông chỉ vừa học vừa làm mà tiến lên. Ông rất vui mừng khi nhìn lại thấy lúc nào và bất kỳ nhiệm vụ nào được giao ông cũng đều hoàn thành được tốt. Ông coi quân đội và các cuộc chiến tranh này là một trường học lớn.

May mắn thay, hạnh phúc thay được sống trong thời đại Hồ Chí Minh! Vinh dự được làm “Bộ đội Cụ Hồ”! Vinh dự là cộng sự tham mưu của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp .
Năm 1983 Ông được quyết định phong hàm Thiếu Tướng , cùng rất nhiều huân huy chương cao quý khác. Đó cũng là phần thưởng cao quý cho cả sự nghiệp cách mạng của ông. Đánh dấu nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội.
Tại thời điểm trích lược bài viết này , ông hiện đã 97 tuổi . Cuộc đời Ông đã hy sinh hơn nửa thế kỷ để đi theo và phục vụ cách mạng. Mặc dù tuổi cao , nhưng sức khỏe ông vẫn ổn định và tinh thần minh mẫn. Hiện nay ông sinh sống tại TPHCM , sống chan hòa hạnh phúc cùng gia đình , con cháu. Trong số hậu thế của ông , con trai Mai Xuân Đức cũng đã phục vụ quân đội theo gương của ông và cũng mang quân hàm Đại Tá.(đã nghỉ hưu).
Từ khi trở về cuộc sống đời thường , nhân lúc còn sức khỏe , Ông đã tiến hành đi tìm hiểu khắp nơi thông tin về họ Mai của mình. Ông đã bắt tay vào soạn thảo gia phả chi họ Mai của Ông. Kết hợp với 1 số thành viên khác trong Họ cùng Ông Mai Trọng Nhân ,.. đã hoàn thiện bộ gia phả Họ Mai Việt Nam. Ông cũng là 1 trong những người đầu tiên cùng Mai Trọng Nhân khởi xướng thành lập Ban Liên Lạc Họ Mai VN , đó cũng là tiền đề cho BLLHMVN sau này.
Con cháu ông đều đỗ đạt thành danh và sống cuộc sống an nhàn, quây quần , hạnh phúc.

“…Dù Tôi đã là Tướng đi chăng nữa nhưng Tôi cũng chỉ là một người lao động vì yêu cầu của đất nước mà mặc áo lính, mà đeo quân hàm tướng. Hết nhiệm vụ, cởi áo lính tôi trở lại là người lao động. Nếu nhớ điều đó sẽ là tiền đề để “sống vui, sống khỏe, sống có ích”, Tôi vẫn thực hiện được lời thề thiêng liêng khi gia nhập Đảng “Suốt đời phấn đấu cho chủ nghĩa cộng sản”. Đó là điều hạnh phúc nhất”.(Trích trong hồi ký Mai Xuân Tần-Nửa thế Kỷ Hành Quân Cùng Đồng Đội)

TPHCM 29/9/2021
(Trích lược)
Mai Trường Sơn